Saturday, May 21, 2016

214 bộ thủ và cách học chữ Hán

Khi hỏi những người đã từng học tiếng Trung rằng: “Tiếng Hán có khó không?”, chắc chắn bạn sẽ nhận được câu trả lời là: “Phiên âm không khó lắm, chữ Hán rất khó”, hoặc là “Nghe và nói rất dễ, đọc và viết rất khó”. Thứ nhất, đó là những câu thoại trong bài khóa của Giáo trình Hán ngữ. Thứ hai, sự thực cũng đúng như thế. Vậy vì sao mà ai cũng thấy học giao tiếp dễ đến thế mà để thuộc được mặt chữ Hán lại quá ư là khó khăn? Chúng ta nên học chữ Hán thế nào cho hiệu quả đây? Vui học tiếng Hán sẽ chia sẻ với các bạn một chút kinh nghiệm về học chữ nhé.
Để “vẽ” được chữ Hán, các bạn cần nắm được các nét cơ bản và quy tắc khi ghép các nét đó thành một chữ, và nếu nhớ thêm 214 bộ thủ sẽ giúp bạn học chữ Hán dễ dàng hơn.
Các nét cơ bản gồm:
cac-net-co-ban-trong-chu-han
Và khi cấu thành một chữ Hán thì những nét đó được ghép với nhau dựa trên quy tắc:
thu-tu-viet-chu-han
Chữ Hán là chữ tượng hình, phân thành hai loại là chữ đơn thể (ví dụ như 人,口,女…)và chữ hợp thể (ví dụ như 你,男,汉,语…), đa phần là chữ hợp thể. Đối với chữ hợp thể thường có kết cấu trái – phải, trên – dưới, ngoài – trong, một phần biểu nghĩa, một phần biểu âm đọc. Vì vậy, khi gặp một từ mới chúng ta vẫn có khả năng đoán được cách đọc hay nghĩa của từ đó. Ví dụ với cặp 4 chữ马 –妈– 骂 – 吗, cả 4 chữ cùng có chữ 马[mǎ] biểu âm, nên cách đọc cũng sẽ tương tự, lần lượt là mǎ – mā – mà – ma. Còn về ý nghĩa thì chúng ta cần xét phần còn lại. Chữ妈[mā] có bộ nữ 女 chỉ giới tính nữ, vậy từ này ắt sẽ chỉ ai đó có giới tính nữ, và từ này nghĩa là mẹ. Chữ吗[ma] có bộ khẩu口 liên quan đến miệng, chỉ hoạt động của miệng như hỏi, nói, ăn, uống …, từ này là trợ từ ngữ khí nghi vấn dùng để hỏi, có nghĩa là “không”. Chữ骂[mà] có hẳn 2 bộ khẩu, 1 cái mồm thì nghĩa là hỏi, 2 cái mồm chắc phải hỏi nhiều, nói nhiều lắm, và từ này nghĩa là mắng.
Thông qua ví dụ trên, các bạn có thể nhận ra 2 điều: ①Học từ, nhớ cách đọc, đoán nghĩa không còn quá khó nữa. ②Việc nhớ các bộ thủ cũng khá quan trọng.
Vậy bộ thủ là gì? Có cần thiết phải nhớ bộ thủ không? Học bộ thủ có tác dụng gì?
1. Bộ thủ (部首): là thành phần cốt yếu của từ tiếng Hán, nó đóng vai trò gần như một “bộ chữ cái” trong tiếng Hán. Có tất cả 214 bộ thủ, hầu hết các chữ trong 214 bộ thủ đều là chữ độc thể tự, là những chữ không thể phân tích nhỏ ra được nữa, nếu phân tích ra, các thành phần đều vô nghĩa, vì vậy phải học thuộc bộ thủ.
2. Tại sao phải nhớ? Để tra từ điển, tra tự điển. Không phải từ nào bạn cũng biết cách đọc, và cách tốt nhất là tra từ điển. Mọi cuốn từ điển đều có phần tra cứu chia theo các bộ, như thế sẽ dễ dàng hơn là đếm nét rất nhiều, vì đếm thường hay đếm sai.
3. Chiết tự (chẻ chữ, phân tích chữ): đó là cách nhớ chữ Hán dễ nhất, nhanh nhất. Ví dụ 休[xiū] có nghĩa là nghỉ ngơi, thì được ghép từ hai chữ nhân (人) đứng và mộc (木), là việc lấy hình ảnh con người khi làm việc mệt, hoặc đi đường mệt thường tựa vào gốc cây (bộ mộc) để nghỉ, do đó ta có chữ “hưu” là nghỉ.
4. Đoán nghĩa của chữ: khi biết bộ thủ thì một cách tương đối ta có thể đoán được chung chung nghĩa của từ, như thấy bộ “thủy” (水,氵) là biết nghĩa sẽ liên quan đến sông nước, bộ mộc (木) liên quan đến cây cối, bộ tâm (心,忄) liên quan đến tình chí, cảm xúc của con người…
Mỗi bộ thủ đều có ý nghĩa của nó, tuy nhiên, giờ chúng ta đang học là tiếng Hán giản thể, nên ý nghĩa của những bộ đấy không còn sát với nghĩa của Hán hiện đại nữa. Nhưng chúng ta vẫn nên học, nên nhớ, vì ko bằng cách nhớ nghĩa của bộ, chúng ta có thể biến hóa thế nào đó với trí tưởng tượng của bản thân để có thể nhớ chữ Hán dễ dàng hơn. Ví dụ như chữ 铅[qiān] có nghĩa là chì (trong từ bút chì), gồm có bộ kim, bộ kỷ(đọc là jǐ – đọc gần như chữ “chỉ” trong tiếng Việt), bộ khẩu, vậy ta có thể nhớ là “Kim – Chỉ – khâu Mồm lại” thế là ra chữ铅 rồi ;)).
Và đây là danh sách 214 bộ thủ ấy đây ạ.
1.一nhất (Yī) = số một
2.〡cổn (Kǔn) = nét sổ
3丶 chủ (Zhǔ) = điểm, chấm
4丿 phiệt (Piě) = nét sổ xiên qua trái
5乙 ất (Yī) = vị trí thứ hai trong thiên can
6亅 quyết (Jué ) = nét sổ có móc
7. 二nhị (Èr ) = số hai
8.亠 đầu (Tóu ) =(không có nghĩa)
9.人nhân (Rén )=người
10.儿nhi (ér ) = con
11.入nhập (rù )=vào
12.八 bát (Bā ) = số tám
13.冂quynh (Jiōng )= vùng biên giới xa; hoang địa
14.冖mật ( mì)= trùm, mái nhà
15. 冫băng (Bīng) =nước đá
16.几kỷ (Jǐ) =ghế
17.凵khảm (Kǎn) = há miệng
18. 刀 đao (dāo) (刂)= con dao, cây đao (vũ khí)
19. 力 lực (lì) = sức mạnh
20. 勹 bao (bā) = bao bọc
21. 匕 chuỷ (bǐ) = cái thìa (cái muỗng)
22. 匚 phương (fāng) = tủ đựng
23. 匚 hệ (xǐ) = che đậy, giấu giếm
24. 十 thập (shí) = số mười
25. 卜 bốc (bǔ) = xem bói
26. 卩 tiết (jié) = đốt tre
27. 厂 hán (hàn) = sườn núi, vách đá
28. 厶 khư, tư (sī) = riêng tư
29. 又 hựu (yòu) = lại nữa, một lần nữa
30. 口 khẩu (kǒu) = cái miệng
31. 囗 vi (wéi) = vây quanh
32. 土 thổ (tǔ) = đất
33. 士 sĩ (shì) = kẻ sĩ
34. 夂 trĩ (zhǐ) = đến ở phía sau
35. 夊 tuy (sūi) = đi chậm
36. 夕 tịch (xì) = đêm tối
37. 大 đại (dà) = to lớn
38. 女 nữ (nǚ) = nữ giới, con gái, đàn bà
39. 子 tử (zǐ) = con; tiếng tôn xưng: «Thầy», «Ngài»
40. 宀 miên (mián) = mái nhà mái che
41. 寸 thốn (cùn) = đơn vị «tấc» (đo chiều dài)
42. 小 tiểu (xiǎo) = nhỏ bé
43. 尢 uông (wāng) = yếu đuối
44. 尸 thi (shī) = xác chết, thây ma
45. 屮 triệt (chè) = mầm non, cỏ non mới mọc
46. 山 sơn (shān) = núi non
47. 巛 xuyên (chuān) = sông ngòi
48. 工 công (gōng) = người thợ, công việc
49. 己 kỷ (jǐ) = bản thân mình
50. 巾 cân (jīn) = cái khăn
51. 干 can (gān) = thiên can, can dự
52. 幺 yêu (yāo) = nhỏ nhắn
53. 广 nghiễm (ān) = mái nhà
54. 廴 dẫn (yǐn) = bước dài
55. 廾 củng (gǒng) = chắp tay
56. 弋 dặc (yì) = bắn, chiếm lấy
57. 弓 cung (gōng) = cái cung (để bắn tên)
58. 彐 kệ (jì) = đầu con nhím
59 彡 sam (shān) = lông tóc dài
60. 彳 xích (chì) = bước chân trái
61. 心 tâm (xīn) (忄)= quả tim, tâm trí, tấm lòng
62. 戈 qua (gē) = cây qua (một thứ binh khí dài)
63. 戶 hộ (hù) = cửa một cánh
64. 手 thủ (shǒu) (扌)= tay
65. 支 chi (zhī) = cành nhánh
66. 攴 phộc (pù) (攵)= đánh khẽ
67. 文 văn (wén) = văn vẻ, văn chương, vẻ sáng
68. 斗 đẩu (dōu) = cái đấu để đong
69. 斤 cân (jīn) = cái búa, rìu
70. 方 phương (fāng) = vuông
71. 无 vô (wú) = không
72. 日 nhật (rì) = ngày, mặt trời
73. 曰 viết (yuē) = nói rằng
74. 月 nguyệt (yuè) = tháng, mặt trăng
75. 木 mộc (mù) = gỗ, cây cối
76. 欠 khiếm (qiàn) = khiếm khuyết, thiếu vắng
77. 止 chỉ (zhǐ) = dừng lại
78. 歹 đãi (dǎi) = xấu xa, tệ hại
79. 殳 thù (shū) = binh khí dài
80. 毋 vô (wú) = chớ, đừng
81. 比 tỷ (bǐ) = so sánh
82. 毛 mao (máo) = lông
83. 氏 thị (shì) = họ
84. 气 khí (qì) = hơi nước
85. 水 thuỷ (shǔi) (氵)= nước
86. 火 hỏa (huǒ) (灬)= lửa
87. 爪 trảo (zhǎo) = móng vuốt cầm thú
88. 父 phụ (fù) = cha
89. 爻 hào (yáo) = hào âm, hào dương (Kinh Dịch)
90. 爿 tường (qiáng) (丬)= mảnh gỗ, cái giường
91. 片 phiến (piàn) = mảnh, tấm, miếng
92. 牙 nha (yá) = răng
93. 牛 ngưu (níu) , 牜= trâu
94. 犬 khuyển (quản) (犭)= con ***
95. 玄 huyền (xuán) = màu đen huyền, huyền bí
96. 玉 ngọc (yù) = đá quý, ngọc
97. 瓜 qua (guā) = quả dưa
98. 瓦 ngõa (wǎ) = ngói
99. 甘 cam (gān) = ngọt
100. 生 sinh (shēng) = sinh đẻ, sinh sống
101. 用 dụng (yòng) = dùng
102. 田 điền (tián) = ruộng
103. 疋 thất (pǐ) ( 匹)=đơn vị đo chiều dài, tấm (vải)
104. 疒 nạch (nǐ) = bệnh tật
105. 癶 bát (bǒ) = gạt ngược lại, trở lại
106. 白 bạch (bái) = màu trắng
107. 皮 bì (pí) = da
108. 皿 mãnh (mǐn) = bát dĩa
109. 目 mục (mù) = mắt
110. 矛 mâu (máo) = cây giáo để đâm
111. 矢 thỉ (shǐ) = cây tên, mũi tên
112. 石 thạch (shí) = đá
113. 示 thị; kỳ (shì) (礻)= chỉ thị; thần đất
114. 禸 nhựu (róu) = vết chân, lốt chân
115. 禾 hòa (hé) = lúa
116. 穴 huyệt (xué) = hang lỗ
117. 立 lập (lì) = đứng, thành lập
118. 竹 trúc (zhú) = tre trúc
119. 米 mễ (mǐ) = gạo
120. 糸 mịch (mì) (糹, 纟)= sợi tơ nhỏ
121. 缶 phẫu (fǒu) = đồ sành
122. 网 võng (wǎng) (罒, 罓)= cái lưới
123. 羊 dương (yáng) = con dê
124. 羽 vũ (yǚ) (羽)= lông vũ
125. 老 lão (lǎo) = già
126. 而 nhi (ér) = mà, và
127. 耒 lỗi (lěi) = cái cày
128. 耳 nhĩ (ěr) = tai (lỗ tai)
129. 聿 duật (yù) = cây bút
130. 肉 nhục (ròu) = thịt
131. 臣 thần (chén) = bầy tôi
132. 自 tự (zì) = tự bản thân, kể từ
133. 至 chí (zhì) = đến
134. 臼 cữu (jiù) = cái cối giã gạo
135. 舌 thiệt (shé) = cái lưỡi
136. 舛 suyễn (chuǎn) = sai suyễn, sai lầm
137. 舟 chu (zhōu) = cái thuyền
138. 艮 cấn (gèn) = quẻ Cấn (Kinh Dịch); dừng, bền cứng
139. 色 sắc (sè) = màu, dáng vẻ, nữ sắc
140. 艸 thảo (cǎo) (艹)= cỏ
141. 虍 hô (hū) = vằn vện của con hổ
142. 虫 trùng (chóng) = sâu bọ
143. 血 huyết (xuè) = máu
144. 行 hành (xíng) , = đi, thi hành, làm được
145. 衣 y (yī) (衤)= áo
146. 襾 á (yà) = che đậy, úp lên
147. 見 kiến (jiàn) (见)= trông thấy
148. 角 giác (jué) = góc, sừng thú
149. 言 ngôn (yán) , = nói
150. 谷 cốc (gǔ) = khe nước chảy giữa hai núi, thung lũng
151. 豆 đậu (dòu) = hạt đậu, cây đậu
152. 豕 thỉ (shǐ) = con heo, con lợn
153. 豸 trãi (zhì) = loài sâu không chân
154. 貝 bối (bèi) (贝)=vật báu
155. 赤 xích (chì) = màu đỏ
156. 走 tẩu (zǒu) , 赱= đi, chạy
157. 足 túc (zú) = chân, đầy đủ
158. 身 thân (shēn) = thân thể, thân mình
159. 車 xa (chē) (车)= chiếc xe
160. 辛 tân (xīn) = cay
161. 辰 thần (chén) , =nhật, nguyệt, tinh; thìn (12 chi)
162. 辵 sước (chuò) (辶 )=chợt bước đi chợt dừng lại
163. 邑 ấp (yì) (阝)= vùng đất, đất phong cho quan
164. 酉 dậu (yǒu) = một trong 12 địa chi
165. 釆 biện (biàn) = phân biệt
166. 里 lý (lǐ) = dặm; làng xóm
167. 金 kim (jīn) = kim loại; vàng
168. 長 trường (cháng) (镸 , 长)= dài; lớn (trưởng)
169. 門 môn (mén) (门)= cửa hai cánh
170. 阜 phụ (fù) (阝- )=đống đất, gò đất
171. 隶 đãi (dài) = kịp, kịp đến
172. 隹 truy, chuy (zhuī) = chim đuôi ngắn
173. 雨 vũ (yǚ) = mưa
174. 青 thanh (qīng) (靑)= màu xanh
175. 非 phi (fēi) = không
176. 面 diện (miàn) (靣)= mặt, bề mặt
177. 革 cách (gé) = da thú; thay đổi, cải cách
178. 韋 vi (wéi) (韦)= da đã thuộc rồi
179. 韭 phỉ, cửu (jiǔ) = rau phỉ (hẹ)
180. 音 âm (yīn) = âm thanh, tiếng
181. 頁 hiệt (yè) (页)= đầu; trang giấy
182. 風 phong (fēng) (凬, 风)= gió
183. 飛 phi (fēi) (飞 )= bay
184. 食 thực (shí) (飠, 饣 )= ăn
185. 首 thủ (shǒu) = đầu
186. 香 hương (xiāng) = mùi hương, hương thơm
187. 馬 mã (mǎ) (马)= con ngựa
188. 骫 cốt (gǔ) = xương
189. 高 cao (gāo) = cao
190. 髟 bưu, tiêu (biāo) = tóc dài; sam (shān)=cỏ phủ mái nhà
191. 鬥 đấu (dòu) = chống nhau, chiến đấu
192. 鬯 sưởng (chàng) 9B2F= rượu nếp; bao đựng cây cung
193. 鬲 cách (gé) =tên một con sông xưa; (lì)= cái đỉnh
194. 鬼 quỷ (gǔi) =con quỷ
195. 魚 ngư (yú) (鱼)= con cá
196. 鳥 điểu (niǎo) (鸟)= con chim
197. 鹵 lỗ (lǔ) = đất mặn
198. 鹿 lộc (lù) = con hươu
199. 麥 mạch (mò) (麦)= lúa mạch
200. 麻 ma (má) = cây gai
201. 黃 hoàng (huáng) = màu vàng
202. 黍 thử (shǔ) = lúa nếp
203. 黑 hắc (hēi) = màu đen
204. 黹 chỉ (zhǐ) = may áo, khâu vá
205. 黽 mãnh (mǐn) = con ếch; cố gắng (mãnh miễn)
206. 鼎 đỉnh (dǐng) = cái đỉnh
207. 鼓 cổ (gǔ) = cái trống
208. 鼠 thử (shǔ) = con chuột
209. 鼻 tỵ (bí) = cái mũi
210. 齊 tề (qí) (斉 , 齐 )= ngang bằng, cùng nhau
211. 齒 xỉ (chǐ) (齿, 歯 )= răng
212. 龍 long (lóng) (龙 )= con rồng
213. 龜 quy (guī) (亀, 龟 )=con rùa
214. 龠 dược (yuè) = sáo 3 lỗ
Ngoài ra học tiếng trung còn có một số kỹ năng nhớ chữ Hán mà bài viết trước chúng tôi đã chia sẻ.
(Sưu tầm)

Học nhớ 100 Kanji trong 2 giờ? (phần 1)

Học nhớ 100 Kanji trong 2h ? (phần 1)

1 tỷ 200 triệu năm rồi mới viết note =))


Note này dành tặng các bạn của mình đang học tiếng Nhật và truyền đạt lại các kinh nghiệm từ các sempai mà mình học được


Dạo này nhiều bạn học tiếng Nhật quá, xem ra ai cũng đau đầu vì không nhớ được Kanji, ai cũng search google "làm thế nào để nhớ Kanji" rồi kết quả hiện ra là bạn nên học Kanji theo bộ, Kanji cần học có khoảng 1945 chữ, bộ thì hình như là 214 bộ thì phải, các bộ đó ban đầu thì dễ chứ đến các bộ về sau thì nó nhiều nét y như một chữ Kanji luôn =)), rồi thì lại tưởng tượng nữa, đến là đau đầu (tuy nhiên là khuyên mọi người nên học bộ thủ, học khoảng 50-100 bộ ban đầu thôi, tưởng tượng cũng dc, sau cũng có ích).
Sau khi đọc được bài post này, mình cũng thấy nó thực sự chính xác
Sự quan trọng của "hán tự" trong tiếng nhật! (JVC Hội Thân Hữu Nhật Việt 日越親友会)
https://www.facebook.com/jvclubinfo/posts/1568048473464630

Hãy học 1945 chữ Kanji như là học 29 chữ cái a,b,c của tiếng việt. "Mình biết có rất nhiều người đang làm được điều này, và họ đang đọc được sách báo tiếng nhật với trình độ sơ cấp chỉ vì họ hiểu chữ hán.Người trung quốc chỉ cần học một chút ngữ pháp là có thể đọc sách báo tiếng nhật rồi."

Tuy nhiên vấn đề vẫn là làm sao để học được hết, nhớ được hết đống 1945 Kanji đó, nếu cứ tay bo ngồi đọc sách thì học 100 chữ chắc nhớ được 50 chữ, hôm sau còn 30 chữ...Hồi trước mình cũng có thấy một phương pháp đó là dùng Flashcard, nói chung là mình cũng thử qua, cũng khá là chán, và hiệu quả lên có tí (ngồi tự làm thì làm dc 100 chữ rồi bỏ, tại nhìn chữ kanji tự mình viêt vào flashcard xấu hoắc =)) còn nghĩ đến mua thì cũng hơi đắt). Bây giờ là thời đại công nghệ, ai cũng có máy tính, smartphone, có rất nhiều các phần mềm hữu ích giúp chúng ta học Kanji thú vị hơn 2 cách trên.
Hôm nay mình sẽ giới thiệu cho mọi người một cái như vậy, theo cảm tính của mình thì nó có thể có tác dụng cỡ như thế này: học được từ mới của 3 bài Minna ni hongo trong vòng 1 ngày, học được khoảng 200 từ mới một ngày, học được khoảng 100 Kanji mất tầm 2h (nhớ chắc dc 80%)...Ngoài ra nếu ai biết tận dụng nó thì có thể dùng để học viết tiếng Nhật, học viết luận cho ielts, học cụm từ vv...(nếu có thời gian mình sẽ viết tiếp về những cách học đó) Mình đã bắt đầu sử dụng trang web này cách đây 6 năm, đầu tiên là học tiếng anh, giờ là tiếng Nhật, biết đâu sau này có thể là tiếng gì nữa...vậy nên là đã thử và nghĩ ra cách tận dụng tối đa nó để học ngoại ngữ (nhất là phần từ vựng và câu văn). Hy vọng qua bài viết này mọi người cũng có thể hiểu được ý nghĩa quan trọng của nó như thế nào (giống như là ai cũng có tài khoản fb, ai học ngoại ngữ cũng nên có tài khoản quizlet.com)

Đầu tiên là bạn phải đăng kí một tài khoản quizlet: https://quizlet.com/sign-up?redir=https%3A%2F%2Fquizlet.com%2Fgoodbye
bạn tốt nhất là không nên chọn Sign up with facebook hay google, vì khi đăng nhập sẽ phải log-in facebook, nói chung là khi học ngoại ngữ thì không nên bật facebook lên (hẳn ai cũng biết lý do), hãy tự chọn một Username và điền các thông tin phía dưới

xong rồi thì bây giờ các bạn vào địa chỉ sau http://quizlet.com/kert_light/folders/1945-kanji
Đây là nơi mình đã tạo sẵn 1945 chữ Kanji để mọi người học.
Trong link mình giới thiệu trên mình đã chia theo các trình độ như sau
1-200 chữ Kanji: N5
1-500 chữ Kanji: N4
1-800 chữ Kanji: N3
1-1200 chữ Kanji: N2
1-1945 chữ Kanji N1
Các bạn có thể chọn học luôn bằng cách vào các set tương ứng trình độ (ví dụ 601-700 (N3)), nhưng để có tính năng theo dõi quá trình học (cực kì hữu dụng) thì bạn nên chọn sao chép về quizlet account cá nhân bằng cách chọn nút copy bên tay phải ở phần tools, một trang mới hiện ra, bạn chỉ cần chọn done. Sau đó vào lại trang http://quizlet.com/ là bạn sẽ thấy có set đó ở account của mình
bạn chọn set vừa copy xong ví dụ 601-700 (N3) rồi chọn speller

sau đó nó sẽ chuyển về giao diện như thế này

và bây giờ bạn có thể bắt đầu luyện tập format chung sẽ là âm hán việt-ví dụ-cách đọc ví dụ chữ 具 bạn phải gõ là "cụ công cụ, dụng cụ gu" rồi ấn enter, vì đây là câu trả lời đúng nên bạn sẽ đi tiếp chữ tiếp theo, nếu bạn trả lời sai (gõ sai) hoặc không nhớ gì để trả lời (ko gõ gì và ấn enter) luôn thì bạn sẽ phải trả lời lại câu hỏi cho chữ Kanji đó. Cứ hết 7 chữ Kanji thì sẽ coi như hết một session nhỏ. Những chữ mà bạn trả lời sai trong session trước sẽ lặp lại ở session sau, ví dụ session 2 học 7 chữ với 3 chữ mới và 4 chữ cũ (trả lời sai ở session 1). Khi trả lời đúng sẽ có một chấm tròn xanh nhỏ ở ô trả lời, chữ nào có 1 chấm nhỏ là đã học được một nửa, có 2 chấm nhỏ thì sẽ không xuất hiện ở session nào nữa vì nó coi đó là bạn đã học nhớ rồi. nếu dc 1 chấm nhỏ rồi mà lần sau trả lời sai thì số chấm lại về 0, còn nếu trả lời đúng thì nó sẽ lên 2.

Dòng phần trăm là biểu hiện bạn đã học được bao nhiêu phần trăm của cả set Kanji đó, 100% là khi bạn đã trả lời đúng 2 chấm nhỏ cho tất cả các phần câu hỏi

Một điều rất hay của Quizlet là nó ghi nhận các thông số về quá trình học 1 set của mình để bạn có thể hiểu mình yếu ở chữ nào, giỏi ở chữ nào để tiếp tục học hiệu quả hơn. Để làm được điều đó bạn bấm vào nút "Back to progress on..."
bạn sẽ thấy các thông số như sau

Often Missed là các từ bạn sai nhiều nhất (nên chú trọng nhất), Sometimes Missed thì sai ít hơn, Never Missed là những từ dễ, bạn nhớ hết rồi
bên cạnh đó có các con số nó biểu hiện là số lần đúng(dấu cộng) -số lần sai (dấu trừ) (ví dụ -2 là sai 4 lần đúng được 2 lần, vậy là bạn đã luyện chữ này 6 lần
Bạn có thể đánh dấu sao vàng cho các từ ở phần Often Missed bằng cách bấm chuột vào dấu sao hoặc chọn select all... nếu có một số từ ở phần sometimes missed mà bạn thấy mình cũng chưa tự tin lắm thì có thể bấm thêm sao để cho vào danh sách, hoặc chọn hết cả đám đó để học tất cả các từ Often Missed+Sometimes Missed cho chắc ăn. Sau đó bạn chọn Study (sao) term only (ở góc trên bên phải), và giờ bạn có thể tập trung vào việc học các từ mình hay sai thôi

Do số lượng từ lớn nên mình không thể edit hết được để tối ưu tốc độ học hết cho các set. Trong quá trình học bạn nên chỉnh sửa các set cho phù hợp với bản thân để đẩy nhanh hơn tốc độ học bằng cách bấm vào biểu tượng cái bút ở mỗi từ và chỉnh sửa lại ví dụ có từ là  "門    môn    cửa, nhập môn, môn đồ, bộ môn  mon" thì theo mình chỉ nên để lại là "門    môn  cửa, nhập môn  mon" thôi vì câu trả lời càng dài thì mình càng dễ sai, và cái sai đó ko thể hiện là mình ko nhớ rõ là mình ko nhớ chữ đó là chữ môn mà chỉ là nói rằng mình ko nhớ được thêm 2 cái ví dụ đi kèm.Hoặc như chữ  驚    kinh    kinh ngạc, kinh sợ    kyoo thì mình sửa thành  驚    kinh    kinh động    kyoo vi mình nhớ chữ đó dễ hơn, mà nghĩa không đổi cho chữ kinh. Điều này sẽ có ý nghĩa khi bạn học số lượng Kanji nhiều hơn, càng nhiều thứ phải nhớ.

Quan điểm của mình về cách học Kanji là như sau: Không có cách đơn giản nào để nhớ hết Kanji cả, phải làm sao cho ta nhìn thấy thật nhiều Kanji, gặp một chữ Kanji nhiều lần, nhất định sẽ nhớ, thường thì sẽ đọc báo hoặc học từ mới để nhớ Kanji nhưng học riêng từng chữ một sẽ đẩy mạnh được tốc độ nhớ kanji thông qua 2 cách học vừa nói. Khi học trên quizlet thì nó giống như là bạn bị hỏi khoảng 100 câu hỏi liên tục kiểu 2405x1993, 98x664, 643x250...bằng bao nhiêu, ban đầu bạn có thể không nhớ được và phải xem câu trả lời, nhưng cũng những câu hỏi đấy lặp lại liên tục thì chắc chắn những lần tiếp theo bạn sẽ nhớ được kết quả và nói luôn ra như máy ấy. Chế độ học Speller của Quizlet cũng vận hành giống như vậy, bạn sẽ phải liên tục gõ ý nghĩa của chữ kanji, vừa học vừa chơi, suýt được 2 chấm rồi mà lại gõ sai về 0 chấm, muốn gỡ lại ngay =))

Một ngày mình thường học khoảng 2 set mới hoặc học 1 set mới và ôn lại các set cũ. bạn nên ghi rõ thời gian đã học các set nào vào một tờ giấy, hoặc file excel như mình làm bên dưới, lên lịch học set mới và ôn lại set cũ.


học 1 tuần nhớ dc hết 2000kanji ko phải là ko thể, chủ yếu là bạn phải tạo ra một cơ chế và lịch ôn tập hợp lý, để 2000 chữ đó ko trôi đi mất thôi =))
học 1 tuần nhớ dc hết 2000kanji ko phải là ko thể, chủ yếu là bạn phải tạo ra một cơ chế và lịch ôn tập hợp lý, để 2000 chữ đó ko trôi đi mất thôi =))
Bạn nên học xong nhớ kĩ một trình độ rồi mới chuyển đến trình độ tiếp theo, đừng vội vàng. Hôm nay bạn có thể đã nhớ được 80% nhưng nếu ko thường xuyên ôn lại thì bạn sẽ dần quên thôi, mỗi ngày chỉ cần dành khoảng 15 phút cho một set thì bạn sẽ luôn nhớ dc chữ Kanji đó, rồi sẽ đến lúc bạn ko thể quên được nó nữa =)). Nếu ai mới học tiếng Nhật thì bạn có thể thấy mình khởi đầu rất chậm, rất lâu mới nhớ hết đống trong trình độ N5 thôi, nhưng cứ cố gắng tiếp tục, càng lên cao tốc độ nhớ của bạn càng nhanh, vì sự tương tự giữa các nét và bộ của chữ Kanji là rất lớn, rồi bạn sẽ nhận ra điều đó và việc học sẽ dễ hơn.

Phù, bỏ 2 tiếng ra để viết note này (toi mất 1 set rồi) , hy vọng mọi người sẽ thấy việc học Kanji thú vị như đi chơi thôi =)). Note lần này là cho các bạn có thời gian học trên máy tính, lần sau mình sẽ viết về app trên iphone và android của Quizlet giúp cho mọi người có thể học mọi lúc mọi nơi =))

Friday, May 20, 2016

Kinh nghiệm học chữ cái Kanji và trọn bộ từ điển 2000 chữ Kanji

Kinh nghiệm học chữ cái Kanji và trọn bộ từ điển 2000 chữ Kanji

Thứ hai, 18 Tháng 11 2013 14:02
    Kinh nghiệm học chữ kanji nhanh và đơn giản nhất. Cùng tham khảo ngay bí kíp để có nâng trình của mình lên nhanh chóng nhé.


    Sau đây là một số điểm cần lưu ý để việc học chữ 漢字 để đạt kết quả tốt hơn

    I. Cấu trúc chữ 漢字 .

    Chữ 漢字 hầu hết được tạo thành từ 2 phần:

    1. Phần bộ ( chỉ ý nghĩa của chữ )

    2. Phần âm ( chỉ âm đọc gần đúng của chữ )

    Phần bộ: Chỉ ý nghĩa của chữ.

    Thí dụ: các chữ có liên quan tới con người đều có bộ Nhân, liên quan tới nước có bộ Thủy, tới cây có bộ Mộc, tới lời nói có bộ Ngôn…Bộ thường được viết bên trái như bộ Nhân Đứng イ trong chữ Trú 住 . Hoặc bên phải như bộ Đao刂 trong chữ Phẩu 剖( dùng để giải phẩu ) hoặc phía trên như bộ Thảo trong chữ Dược 薬 ( Vì thuốc ngày xưa chủ yếu từ cây cỏ ), hoặc dưới như bộ Tâm心 trong chữ Cảm 感( con tim cảm nhận )...

    Việc nhận định hình thù và vị trí viết của các bộ hơi khó đối với người mới học, nhưng nếu đã học qua 1 lần có thể nhớ ra ngay, và như vậy mỗi chữ 漢字 chỉ cần nhớ phân nửa chữ còn lại ( phần chỉ âm ) là xong và 漢字 sẽ thấy đơn giản còn phân nửa.

    Phần chỉ âm: cạnh “ Bộ “ là phần chỉ âm đọc của chữ. Có thể ở đây người ta đã căn cứ theo âm đọc của người Hoa, khi chuyển sang âm Việt, âm này không còn chính xác nữa. Tuy nhiên có thể nhận biết quy tắc này trong 1 số chữ:

    Thí dụ: 白Bạch ( trắng ), 百Bách ( Trăm ), 伯Bá ( Chú bác ), 拍Phách ( nhịp ),泊 Bạc ( phiêu bạc ), 迫Bách ( thúc bách ).

    Thí dụ vừa kể có nhiều, song không phải là tất cả, nó không giúp chúng ta quyết định từng chữ phải viết như thế nào, nhưng khi thấy nó, ta có thể phần nào đoán được âm đọc ( một phần có thể đoán từ ý nghĩa của phần “ Bộ “, và ký ức của mình về các từ liên quan ).

    3. Các đặc điểm khác về cấu trúc:

    Chữ 漢字 trông rất phức tạp vì gồm nhiều nét, ngang dọc lung tung, rất khó nhớ. Tuy nhiên, mỗi chữ đều hình thành từ nhiều bộ phận, từ nhiều chữ đơn giản. Tựa như chữ Trường trong Việt ngữ do chữ t, r, ư, ơ, n, g và dấu huyền hợp thành, chữ 漢字 cũng vậy, như chữ Phúc福 gồm bộ Thịネ, chữ Nhất一, chữ Khẩuロ, chữ Điền田. Do vậy, để nhớ ta phải phân tích nó ra, hay nói ra hơn phải đánh vần nó, như trường hợp chữ Phúc sẽ đánh vần tựa như sau: Bộ Thị, Nhất, Khẩu, Điền ( tất nhiên phải đánh vần theo thứ tự Viết ). Như vậy sẽ dễ nhớ hơn.
     
    4. Chữ 漢字 do nhiều bộ phận nhiều chữ đơn giản hợp lại, để diễn đạt thành 1 ý, do đó các thành phần của nó cũng giúp ta suy nghĩ ra ý tưởng của chữ.

    Thí dụ: chữ Nam男 gồm bộ Điền 田cộng với Lực力, nghĩa là người làm việc chính trên đồng ruộng, hay chữ Dũng勇 gồm chữマ, chữ Nam男, chữ Liệt 劣gồm chữ Thiểu 少và bộ Lực力, nghĩa là thiếu sức. Điểm này không hoàn toàn đúng với mọi mặt chữ, nhưng có thể dùng nó để đặt thành những câu vè để dễ nhớ.

    Thí dụ: chữ Nỗ 努gồm chữ Nô 奴và chữ Lực 力nghĩa là Nỗ lực như người nô lệ.

    Tóm lại, khi học 漢字 nên lưu ý tới sự tồn tại của các Bộ và sự kết hợp của các chữ đơn giản, các chữ có cấu trúc giống nhau thường có âm đọc gần giống nhau, hay ý nghĩa của chữ đôi khi có thể suy luận từ các bộ phận cấu thành.

    II. Cách nhớ mặt chữ

    Ngoài cách nhớ nói trên ( bộ, và các chữ đơn giản ghép thành ) cũng nên biết các nguyên tắc sau đây:
    1. Chữ 漢字 rất dễ quên, cần xem lại thường xuyên ( nếu được nên xem lại mỗi ngày ).
    2. Thay vì dùng nhiều thời gian để học một chữ, nên học lướt qua chữ đó nhiều lần ( mỗi chữ chỉ nên học 1, 2 giây, nhưng nên nhìn lại hàng trăm lần tại các thời điểm khác nhau ).

    III. Cách viết

    Chữ 漢字 được viết theo thứ tự: “Trái trước phải sau, trên trước dưới sau, ngang trước sổsau”.

    Thí dụ: Chữ Hiệu校. Ta phải viết bộ Mộc trước vì nó nằm ở bên trái ( gồm 1 nét ngang, 1 nét sổ thẳng, 2 nét phẩy 2 bên ) rồi tới chữ đầu ( gồm 1 chấm, 1 ngang ) và chữ Giao ( gồm chữ Bát và 2 nét phẩy đè lên nhau ).

    Cũng có người viết không tuân thủ 100% quy tắc trên, mà viết theo sự thuận tay. Tuy nhiên đối với người mới học, nên tuân thủ nguyên tắc trên là tốt nhất.

    TÓM LẠI:
    1. Trong sách chữ 漢字 được xếp theo bộ vì người Việt có thể hiểu được nghĩa phần lớn các chữ 漢字 ( dẫu không nhận mặt chữ được hay viết được ). nhưng có thể nhớ được Bộ của từng chữ. Chỉ phải học phần còn lại ngoài Bộ mà thôi.

    2. Tên gọi và hình thù các bộ được liệt kê trong bảng kê các bộ, khi mới học không cần nhớ ngay bảng này, mà chỉ dùng nó để tra cứu, mỗi khi quên tên gọi của Bộ.

    3. Chỉ nên học viết sau khi đã thuộc kỹ mặt chữ, thuộc tới mức có thể nhắm mắt lại tưởng tượng ra hình dạng của nó ( theo thứ tự đánh vần ). Khi đó hãy cố tưởng tượng vẽ lại hình dạng đã tưởng tượng. Nếu vẽ ( hay viết ) đúng, có nghĩa là ta đã thuộc được chữ. Nếu sai, xem xét lại chỗ nào, viết lại lần nữa, và lần này chắc chắn sẽ không còn sai. Tóm lại, chỉ cần tập viết khoảng 2 lần là đủ.

    4. Nhưng điểm then chốt nhất vẫn là chuyện phải thường xuyên xem lại các chữ đã học, vì chúng rất dễ quên.

    Các chữ kajni của nhật hầu hết giống tiếng trung chi khác về cach phát âm! đây là linh toàn bộ chữ kanji của nhật!
    Sách của người Việt biên soạn có âm On, âm Kun, nói chung là đầy đủ, số nét, âm hán việt...

    Tại sao phải học chữ Kanji?

    Nhiều người nghĩ rằng việc sử dụng 1 hệ thống các ký hiệu riêng biệt và rời rạc thay vì sử dụng 1 hệ chữ cái thống nhất thật là cổ lỗ và gây khó dễ cho người đọc không cần thiết.

    Trong thực tế, có thể việc dùng chữ Hán trong tiếng Nhật không phải là một việc làm hay lắm vì cấu trúc của 2 loại ngôn ngữ này là hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, mục đích của cuốn cẩm nang này không phải là tranh luận về những quyết định từ hàng nghìn năm trước đây mà chỉ giải thích lý do vì sao bạn phải học kanji để có thể học được tiếng Nhật. Bằng cách này, tôi hy vọng sẽ làm hơn việc chỉ nói “Đấy, ngôn ngữ nó thế đấy, tự tìm cách mà vượt qua đi!”.

    Nhiều người nghĩ là tiếng Nhật nên được thay đổi từ các chữ Hán sang romaji. Trong thực tế người Triều Tiên đã tự tạo ra bảng chữ cái của họ để làm giảm những bất cập trong ngôn ngữ của mình và đạt được những thành công rực rỡ. Thế thì vì sao Nhật đã không làm được như vậy với ngôn ngữ của mình?

    Tôi sử dụng thì quá khứ trong câu hỏi của mình vì tôi biết rằng chính phủ Nhật đã từng cố thay thế kanji bằng romaji ngay sau thế chiến II nhưng không được thành công lắm. Tôi nghĩ rằng bất cứ ai đã từng đánh máy chữ Nhật thì sẽ dễ dàng hiểu vì sao việc cách tân như vậy không đem lại thành công. Bất cứ lúc nào, khi bạn chuyển từ romaji sang kanji, bạn sẽ được gợi ý ít nhất là 2 sự lựa chọn (2 từ đồng âm khác nghĩa), đôi khi còn lên tới 10 từ như vậy. (Thử đánh từ kikan mà xem).

    46 ký tự trong bảng chữ cái tiếng Nhật khiến cho hiện tượng đồng âm khác nghĩa là không thể tránh khỏi. So sánh với bảng chữ Triều Tiên với chỉ vỏn vẹn 14 phụ âm và 10 nguyên âm, tất cả các nguyên âm đều có thể ghép với tất cả các phụ âm để tạo thành tổng cộng là 140 âm tiết. Hơn nữa, 1 phụ âm thứ 3 hoặc thậm chí là thứ tư có thể được thêm vào để tạo nên 1 chữ. Điều này tạo nên khoảng 1960 âm tiết theo lý thuyết. (Các âm tiết thực sự được sử dụng ít hơn rất nhiều, tuy nhiên tôi không được biết con số chính xác.)

    Do bạn muốn đọc càng nhanh càng tốt, bạn cần có 1 hình ảnh trực quan cho biết mình đang được đọc cái gì. Bạn có thể dùng hình dạng của các con chữ để đọc lướt các văn bản do các chữ đều có hình dạng riêng. Bạn thử kiểm tra dòng chữ tiếng Anh này: Hi, enve thgouh all teh wrods aer seplled icorrenctly, can you sltil udsternand me?”. Người Triều Tiên cũng làm như vậy vì họ có đủ ký tự với hình dạng khác nhau để tạo thành các từ. Tuy nhiên, do các hình dạng này trông không thể trực quan như kanji, người ta phải thêm các khoảng trống vào giữa để làm giảm sự nhầm lẫn, lưỡng lự khi đọc. (Nó lại tạo ra 1 vấn đề mới: Cần dùng các khoảng trống đó khi nào và ở đâu?)

    Với kanji, người Nhật không phải lo lắng về các khoảng trống, và hầu hết các vấn đề do hiện tượng đồng âm gây ra đều đã được giải quyết. Nếu không có kanji, ngay cả khi thêm các khoảng trống, sự lưỡng lự và thiếu trực quan sẽ làm tiếng Nhật trở nên khó đọc hơn rất nhiều.

    Cách Học Chữ Kanji

    Kanji (漢字, Hán tự) là chữ Hán dùng trong tiếng Nhật. Kanji là một trong 5 bộ kí tự được dùng trong hệ thống chữ viết tiếng Nhật hiện nay; 4 bộ kí tự kia là hiragana, katakana, bảng chữ cái La Tinh (rōmaji)), và chữ số Ả-rập.

    Bài này tập trung nói về cách dùng chữ Hán trong tiếng Nhật.

    Lịch sử


    Có một số bất đồng về cách thức chữ Hán du nhập vào Nhật Bản, nhưng ý kiến được chấp nhận rộng rãi nhất là các tu sĩ Phật giáo đã mang các văn bản chữ Hán vào Nhật vào khoảng thế kỉ thứ 5. Các văn bản này được viết bằng chữ Hán vào và lúc đầu cũng được đọc bằng âm Hán. Tuy nhiên qua thời gian, hệ thống kanbun (漢文, Hán văn) xuất hiện - nó dùng văn bản chữ Hán với dấu thanh cho phép người Nhật đọc nó theo quy tắc ngữ pháp tiếng Nhật.

    Lúc bấy giờ tiếng Nhật chưa có dạng chữ viết. Ngay cả hệ thống chữ viết man'yōgana (万葉仮名, vạn diệp giả danh, được dùng trong tuyển tập thơ cổ Man'yōshū) cũng dùng bộ chữ Hán với số kí tự hạn chế nhằm ký âm, chứ không nhằm diễn đạt ngữ nghĩa. Man'yōgana viết ở dạng đường cong trở thành hiragana (ひらがな, 平仮名, bình giả danh), một hệ thống chữ viết dành cho phụ nữ (không được phép tham gia vào nền giáo dục cao). Hầu hết văn chương của phụ nữ vào thời đại Heian được viết bằng hiragana. Song song đó, katakana (カタカナ, 片仮名, phiến giả danh) xuất hiện do được các tu sinh giản lược manyogana thành một thành tố đơn. Hiragana và katakana được gọi chung là kana.

    Khi hệ thống chữ viết tiếng Nhật trưởng thành và mở rộng, kanji được dùng để viết một số phần trong câu, như danh từ, tính từ và động từ, còn hiragana được dùng để viết đuôi của động từ (okurigana), từ chỉ có ở tiếng Nhật và từ khó đọc hay nhớ bằng Kanji. Hiragana cũng được dùng trong sách dùng cho trẻ em và khi muốn giảm nhẹ mức độ của từ hoặc lời yêu cầu, thí dụ như từ kudasai (ください, xin vui lòng) và kodomo (子供, trẻ em). Ngược lại, vì có hình dạng góc cạnh, katakana được dùng để biểu thị từ tượng thanh, các âm thô và đột ngột, âm thanh của động vật và từ vay mượn của nước ngoài. Tuy nhiên cần lưu ý rằng việc dùng katakana để viết từ vay mượn chỉ xuất hiện sau này. Lúc đầu, các từ này được viết bằng kanji, dựa theo nghĩa (煙草 tabako, thuốc lá) hay theo phát âm (tempura 天婦羅 hay 天麩羅, tên một món ăn). Ngày nay thì ngược lại. Từ vay mượn, đặc biệt là gốc tiếng Anh, đang nhanh chóng thay thế cả những từ thường dùng có sẵn dạng tương đương trong tiếng Nhật thay vì được dùng để lấp khoảng trống từ vựng. Một giáo sư ngôn ngữ học ước tính đến 1/3 tiếng Nhật văn nói dùng từ vay mượn hay wasei-eigo, từ tiếng Anh được phát minh bởi người Nhật và từ kết hợp như パソコン pasokon (personal computer, máy tính cá nhân).

    Phân loại kanji theo lịch sử

    Kokuji
    Trong khi một số từ kanji và Hán tự của người Hoa có thể đọc qua lại lẫn nhau, một số từ kanji lại không có Hán tự tương đương. Ngoài những từ được dùng với nghĩa khác, những từ có cùng nghĩa nhưng viết khác, cũng có những từ riêng của tiếng Nhật được gọi là kokuji (国字, quốc tự), còn được gọi là wasei kanji (和製漢字, Hán tự được chế ra tại Nhật). Có hàng trăm chữ kokuji (xem danh sách ở sci.lang.japan AFAQ), và mặc dù một số từ này ít được dùng, những từ còn lại đã góp phần quan trọng và ngôn ngữ viết tiếng Nhật. Chúng bao gồm:

    峠 tōge (đỉnh đèo)
    榊 sakaki (cây sakaki, giống Camellia)
    畑 hatake (cánh đồng)
    辻 tsuji (ngã tư đường)
    働 dō, hatara(ku) (làm việc)

    Kokkun

    Kokkun (国訓, quốc huấn) là những chữ kanji có nghĩa trong tiếng Nhật khác với nghĩa nguyên thuỷ trong tiếng Hán. Thí dụ:
    沖 oki (ngoài khơi; tiếng Hoa: chōng rửa)
    椿 tsubaki (Camellia japonicus, cây hoa trà; tiếng Hoa: chūn cây Ailantus)

    Từ cũ và từ mới

    Một số chữ kanji có thể được viết theo 2 cách khác nhau 旧字体 (kyūjitai; cổ tự thể hay cách viết cũ) và 新字体 (shinjitai; tân tự thể hay cách viết mới). Dưới đây là một số thí dụ về kyūjitai theo sau bởi shinjitai:
    國 国 kuni (quốc gia)
    號 号 gō (số)
    變 変 hen, ka(waru) (thay đổi)

    Kyūjitai được dùng trước khi Đệ nhị thế chiến kết thúc; sau chiến tranh chính phủ Nhật đưa ra shin-jitai với lối viết đơn giản hoá. Một số chữ mới này tương tự với tiếng Hoa giản thể được dùng tại Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

    Cũng có những chữ Hán được dùng trong tiếng Nhật chỉ với mục đích phát âm (当て字 ateji). và nhiều chữ Hán không được dùng trong tiếng Nhật. Tuy nhiên, về mặt lí thuyết, bất cứ chữ Hán nào cũng có thể là chữ Nhật — Morohashi Daikanwa Jiten, từ điển kanji lớn nhất cho đến nay, có gần 50.000 mục từ, gồm cả những mục từ chưa từng được dùng trong tiếng Nhật.

    Phương pháp học chữ Kanji hiệu quả


    Nếu các bạn muốn học giỏi tiếng Nhật điều quan trọng nhất đó là học chữ Kanji (hay còn gọi là chữ Hán). Chữ Kanji chiếm 80% trong tiếng Nhật. Nếu muốn học giỏi chữ Kanji thì trước tiên ta phải hiểu rõ về cấu tạo của chữ.
    1.Cấu tạo chữ Kanji

    Muốn hiểu rõ về cấu tạo của chữ Kanji thì chúng ta cần tìm hiểu qua về kết cấu chữ Hán mà người xưa gọi là LỤC THƯ

    Lục thư gồm: tượng hình, chỉ sự, hội ý, hình thanh, chuyển chú và giả tá.

    Tượng hình : là vẽ giống hình vật thực , như Nhật 日(mặt trời) , nguyệt 月 (mặt trăng).

    Chỉ sự : vẽ trừu tượng , như Thượng 上 (trên) , Hạ下 (dưới)…

    Hội ý : là ghép hai hay nhiều ký tự tượng hình để biểu thị ý nghĩa chữ muốn có. Như chữ Lâm 林 ( hai chữ mộc là hai cây ý nói nhiều cây hợp lại thành rừng) , Minh 明 (nhật nguyệt mà hợp lại thì còn gì sáng bằng) …

    Hình thanh : là do chữ tượng hình kết hợp lại, trong đó một chữ chỉ âm và một chữ chỉ ý nghĩa . Ví dụ : chữ Tưởng 想 gồm có chữ tương (tướng) 相ở trên chỉ âm và bộ Tâm 心 bên dưới chỉ nghĩa , tóm lại toàn tưởng này có nghĩa là hồi tưởng hay tưởng tượng …. Chú ý đây là một phương pháp học chữ Hán luôn vì đa số (khoảng 80%) chữ Hán được tạo theo kiểu này.

    Chuyển chú : là lối dùng chữ có cùng một bộ thủ, thanh âm gần nhau, ý nghĩa giống nhau, có thể chú thích cho nhau . Ví dụ như chữ Khảo 考và Lão 老 có âm gần nhau vừa có nghĩa là ” già ” nên có thể dùng làm 1 cặp chuyển chú.
    Giả tá : là dùng chữ đồng âm thay cho chữ có nghĩa mới , mà không cần phải tạo ra chữ mới (tốn chất xám ). Ví dụ như mượn chữ Trường 長 là dài làm chữ Trưởng 長 là lớn.

    Nói tóm lại chữ Hán có 6 cách tạo nên nhưng ta thường dùng 4 cách đầu còn 2 cách cuối chủ yếu dùng chơi chữ.

    2. Cách học chữ Kanji hiệu quả

    Chúng ta học chữ Kanji điều đầu tiên chúng ta cần học đó là Âm Hán Việt vì nó rất gần gũi và dễ hiểu. Còn về âm ON và âm KUN thì khi nào chúng ta tiếp xúc nhiều thì sẽ hiểu. Trong các kỳ thi năng lực tiếng Nhật nếu chúng ta hiểu biết được càng nhiều âm Hán Việt thì sẽ giúp ích cho chúng ta rất nhiều. Vì trong bài thi co rất nhiều từ mới mà ta chưa thể đọc được nhưng nếu ta biết được âm Hán Việt thì ta cũng có thể đoán được ra nghĩa của từ đó.
    Điều thứ hai chúng ta cần biết khi học chữ Kanji đó là học các bộ Thủ. Trong chữ Kanji co 214 bộ thủ có từ 1 đến 14 nét. Nhưng bạn chỉ cần học 100 bộ là ok rùi. Nếu có thể bạn nên tìm hiểu nghĩa của các bộ bạn đã học và cách học thủ thuật của từng bộ, nó sẽ giúp cho các bạn rất nhiều sau này. Trong tiếng Nhật có rất nhiều chữ Kanji giống nhau chỉ khác nhau ở bộ và cách đọc và ý nghĩa sẽ khác nhau. Học bộ thủ để mình có thể đánh vần chữ Kanji giống như mình đánh vần tiếng Việt vậy.

    Điều chúng ta cần chú ý nữa đó là phải học thật kỹ, ghi nhớ theo cách riêng của mình. Liên tưởng nghĩa là mình mượn cách ” Hội ý ” để nhớ 1 chữ . Ví dụ như chữ thân 親 (Lưỡng thân là cha mẹ), gồm Bộ Lập 立( đứng ), Bộ Mộc 木 (cây), bộ kiến 見( thấy) , tạm lý giải là “đứng trên cây nhìn” ý nói các bậc cha mẹ luôn nhìn bao quát quan tâm tới các con của mình … Chú ý là không phải chữ nào ta cũng giải thích như vậy được.
    Nên phân biệt , học và ghi chú những chữ gần gần nghĩa nhau , chỉ thay 1 bộ là thành chữ khác, cách học này giúp bạn đỡ nhầm lẫn về sau. Ví dụ chữ thanh 青, đúng một mình nó là màu xanh , thêm bộ tâm đằng trước thì lại thành là chữ tình 情 (trong ái tình), lại thêm bộ Nhật vào chữ thanh thì ra chữ tình 晴 (trời trong xanh , trời đẹp), nghịch quá thay chữ nhật thành 3 chấm thủy thì lại thành chữ Tinh 清 (trong tinh khiết) , và sau cùng muốn thanh thành Tinh 精 ( trong tinh hoa) thì chỉ cần thêm vào bộ Mễ(gạo, nước Mỹ) .

    Tiếp theo sẽ là học kỹ sẽ nhớ , nhưng rồi cũng quên nếu chúng ta không viết , quy tắc viết thông thường là trên xuống dưới , trái sang phải , trong ra ngoài. Không cần viết nhiều chỉ vài lần , viết chữ to để phân tích xem mình viết thế nào . Bạn có thể tìm phần mềm Wakan để học cách viết , thứ tự nét trước sau , từ điể Hán việt thiều chửu cùng có chỉ cách viết một vài chữ, nhưng vì trong tiếng Nhật hiện đại có một số từ không giống với tiếng Hoa, sẽ khiến bạn rối đấy.Ôn lại mỗi ngày, đọc thuộc từ trên xuống dưới từ trái sang phải tùm lum hết, nói chung đọc cách gì cũng thuộc. Nếu mới bắt đầu thì có thể dùng cách của tôi hồi xưa , in ra thành các card nhỏ , mỗi chữ một card , học vậy cũng được nhưng nếu nhiều quá thì tốn thời gian .

    Điều cuối cùng đó là nên thường xuyên coi phim tàu , nhìn thấy nhiều chữ Hán sẽ giúp bạn nhớ nhiều và nhớ dai , không biết thì ghi lại rồi dùng từ điển babylon để tra âm Hán việt thôi . Vào đọc mấy trang tin của Nhật như NHK … cũng là một cách hay đấy , lúc đầu có thể rối nhưng từ từ cũng quen . Tôi còn vào cả mấy website tiếng Trung nữa kia , dù chẳng biết nữa chữ của nó , lùng sục dùng mọi phương tiện sẵn có , chủ yếu là Babylon , để hiểu và biết thêm nhiều chữ Hán….

    Trên đây là các cách học mà mình đã đúc kết sau nhiều năm học tiếng Nhật.

    Chúc các bạn học tốt và thành công.

    Trọn bộ 3 file, mỗi file gồm khoảng trên 20 file hình ảnh.

    Minus: 

    Mediafire: (pass: vnsharing.net)

    http://ngoaingu.odau.com/tin-tuc/item/43-kinh-nghiem-hoc-chu-cai-kanji-va-tron-bo-tu-dien-2000-chu-kanji